
BS Phạm Minh Triết
(Bài viết trích dịch một phần từ Early Intervention – tác giả: BS. Jennifer K. Poon, BS. David O. Childers Jr. Bài mang tính chuyên môn, dành cho phụ huynh có con có các vấn đề về phát triển (tự kỷ, chậm phát triển, …) và người làm chuyên môn)
Bài dịch:
Can thiệp sớm (CTS) là những phương pháp nhằm cố gắng cải thiện kết quả phát triển cho trẻ em có biểu hiện hoặc có nguy cơ cao chậm phát triển. Nhiều bằng chứng cho thấy phần lớn sự phát triển não bộ sớm phụ thuộc vào kinh nghiệm và quỹ đạo phát triển có thể được cải thiện bằng cách can thiệp sớm và thích hợp. Mục tiêu của các chương trình CTS chuyên biệt có thể bao gồm dạy cha mẹ về sự phát triển của trẻ và cách tăng cường kích thích phát triển, giúp cha mẹ hiểu các dấu hiệu hành vi của trẻ, thừa nhận và giải quyết các vấn đề căng thẳng của cha mẹ, tăng cường mối quan hệ cha mẹ và con cái hoặc cung cấp các liệu pháp phát triển (ví dụ: vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu).
Tại Mỹ, CTS được qui định bởi luật liên bang và có sẵn ở mọi quận ở tất cả 50 tiểu bang, cũng như Quận Columbia. Các chương trình này cung cấp một hệ thống các dịch vụ lấy gia đình làm trung tâm giúp trẻ em đang bị chậm phát triển hoặc có những chẩn đoán y khoa có nguy cơ chậm phát triển cao (ví dụ: rối loạn di truyền như hội chứng Down, trẻ sinh non rất nhẹ cân). Hiện tại, các dịch vụ CTS được qui định phải đáp ứng nhu cầu của bất kỳ đứa trẻ nào từ khi sinh ra đến 36 tháng tuổi bị chậm trễ trong một hoặc nhiều lĩnh vực sau:
- Nhận thức
- Thể chất (vận động thô, vận động tinh, thị giác và thính giác)
- Giao tiếp
- Tương tác xã hội hoặc tình cảm
- Thích ứng (tự lập)
- Trẻ được chuyển đến dịch vụ bảo vệ trẻ dựa trên lo ngại về việc bị bỏ rơi và/ hoặc lạm dụng (giới thiệu bắt buộc theo Đạo luật Bảo vệ Lạm dụng Trẻ em)
Một tiểu bang có thể tiếp tục cung cấp các dịch vụ CTS sau 3 tuổi; tuy nhiên, những dịch vụ đó sẽ chấm dứt ở độ tuổi khi đứa trẻ đủ điều kiện vào trường mẫu giáo hoặc học cấp 1.
CTS đã được chứng minh là cải thiện sự tương tác giữa cha mẹ và con cái, giúp cha mẹ sửa đổi hành vi của họ để đáp ứng nhu cầu của con họ, cung cấp hỗ trợ cho gia đình, giảm căng thẳng của cha mẹ và giúp các gia đình tìm hiểu các chiến lược thúc đẩy con mình (2). Về mặt thay đổi quỹ đạo phát triển, CTS đã được chứng minh là thành công nhất ở trẻ em chậm phát triển nhẹ so với chậm phát triển nặng, ở trẻ em có nguy cơ chậm phát triển do môi trường sống (ví dụ: tình trạng kinh tế xã hội thấp, thường xuyên có những căng thẳng độc hại) so với nguy cơ sinh học thần kinh (hội chứng di truyền, dị thường cấu trúc não), và ở trẻ em có nguy cơ bị khuyết tật tâm thần so với trẻ em bị khuyết tật đã biết (3). Nghiên cứu nhận thức thần kinh đã chỉ ra rằng có những giai đoạn phát triển não bộ tối ưu, khi việc học tập đạt được hiệu quả cao nhất (1).
Can thiệp được lên kế hoạch và cung cấp càng sớm càng tốt có thể cải thiện kết quả chức năng và chất lượng cuộc sống cho tất cả trẻ em bị chậm phát triển hoặc những người có nguy cơ chậm phát triển và gia đình của những trẻ này (4-6). Các dịch vụ can thiệp được cung cấp trong những năm mẫu giáo có khả năng mang đến lợi ích tốt nhất cho trẻ em và gia đình trong việc giảm thiểu các vấn đề về phát triển và hành vi cho trẻ em có nguy cơ. Những dịch vụ này cũng phục vụ để tối đa hóa những khả năng tiềm tàng của trẻ và ngăn ngừa các vấn đề xã hội, cảm xúc hoặc hành vi thứ cấp ở các giai đoạn phát triển sau này và cũng cung cấp sự hỗ trợ cho các gia đình trong việc chăm sóc con cái của họ ở nhà (4-6).
Một phân tích tổng hợp 31 nghiên cứu về CTS cho các gia đình có trẻ em khuyết tật dưới 3 tuổi (7) cho thấy CTS giúp những trẻ em được phân loại là “bị chậm phát triển” có được phát triển nhận thức tốt hơn so với những trẻ bị “chậm phát triển trí tuệ nặng” và trẻ em bị khuyết tật vận động là nhóm ít đạt được lợi ích nhất. Các chương trình giảng dạy CTS được xác định rõ ràng đã được chứng minh là có ảnh hưởng lớn hơn về sự phát triển của trẻ, trái ngược với các chương trình có ít cấu trúc. Sự tham gia chặt chẽ của cha mẹ và những can thiệp kết hợp giữa trẻ và cha mẹ với nhau trong quá trình cung cấp dịch vụ đã được chứng minh là những đặc điểm hiệu quả nhất của các chương trình CTS.

Can thiệp sớm với sự tham gia của phụ huynh mang đến kết quả tốt hơn can thiệp sớm chỉ cho trẻ
Mặc dù CTS có thể phục vụ nhiều loại và mức độ nghiêm trọng khác nhau của các tình trạng với cường độ và loại dịch vụ khác nhau, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng CTS giúp cải thiện ngắn hạn và dài hạn về nhận thức, chức năng cảm xúc xã hội, cũng như giúp tương tác giữa trẻ em với môi trường hỗ trợ cho hộ gia đình (2,8 – 13). Nhìn chung, y văn ủng hộ rằng các chương trình CTS tập trung vào đơn vị gia đình có tính hiệu quả hơn so với các chương trình chỉ tập trung vào đứa trẻ. Ngay cả khi trẻ em bị khuyết tật phát triển nặng sống trong môi trường gia đình rất kích thích ít nhận được lợi ích định lượng nhất thông qua các dịch vụ CTS, các dịch vụ này vẫn thúc đẩy sự tương tác phù hợp hơn và thoải mái hơn giữa cha mẹ và trẻ khuyết tật (ngăn ngừa sự khiếm khuyết thứ cấp về mặt xã hội, tình cảm, hoặc hành vi), tăng cường khả năng của cha mẹ để chăm sóc con bị khuyết tật nặng tại nhà và cải thiện kết quả chức năng. Đối với các gia đình có trẻ em bị khuyết tật nghiêm trọng, việc cung cấp các dịch vụ CTS cũng có thể là một thành phần quan trọng của việc chấp nhận can thiệp lâu dài, cho thấy là chương trình can thiệp đã được thực hiện (13).
Tác động sâu của CTS không chỉ xảy ra đối với trẻ mà còn đối với cha mẹ và các gia đình liên quan đến đứa trẻ. Nghiên cứu theo chiều dọc can thiệp sớm quốc gia (NEILS) cho thấy rằng các gia đình tham gia vào CTS đã tích cực khi hoàn thành chương trình và cảm thấy rằng bản thân tốt hơn nhờ vào chương trình (2,14). Hơn nữa, họ cảm thấy có năng lực trong vai trò là cha mẹ, cũng như trong vai trò hợp tác của họ với các chuyên gia. Hầu hết đều cảm thấy tích cực về tương lai của con mình (14).
Các yếu tố nguy cơ môi trường rõ ràng có thể có tác động tiêu cực đến sự phát triển của trẻ và những tác động tiêu cực này có thể được ngăn chặn hoặc cải thiện thông qua CTS (15,16). Dự án Abecedarian (17) đã chứng minh các lợi ích của CTS ở trẻ em từ các gia đình thu nhập thấp, có nhiều nguy cơ. Nghiên cứu này cho thấy những trẻ được CTS có điểm kiểm tra nhận thức cao hơn, điểm thành tích cao hơn về đọc và toán, thời gian đi học lâu hơn, khả năng theo học đại học 4 năm cao hơn, và khả năng trở thành cha mẹ ở tuổi vị thành niên thấp hơn… (hết bài dịch).
Lời kết:
Trẻ có nguy cơ hoặc có các vấn đề về phát triển có thể được cải thiện nhờ vào các phương pháp CTS trước 36 tháng tuổi.
CTS có hiệu quả rõ ở những trẻ có vấn đề về phát triển ở mức độ không nặng và ở những trẻ có nguyên nhân liên quan đến môi trường (như đói nghèo, trẻ bị bỏ mặc hoặc bị bạo hành,…)
CTS có sự tham gia tích cực của phụ huynh mang đến kết quả tốt hơn so với CTS chỉ có trẻ.
(Bạn đọc có câu hỏi để hiểu rõ hơn có thể đặt câu hỏi ở phần bình luận (comment) hoặc qua hộp thư Facebook)
Bs Phạm Minh Triết.
Tài liệu tham khảo:
1. American Academy of Pediatrics Council on Children With Disabilities, Duby JC. Role of the medical home in family-centered early intervention services. Pediatrics. 2007;120(5):1153–1158
2. Bailey DB Jr, Hebbeler K, Spiker D, et al. Thirty-six-month outcomes for families of children who have disabilities and participated in early intervention. Pediatrics. 2005;116(6):1346–1352
3. Lipkin PH, Schertz M. Early intervention and its efficacy. In: Accardo PJ, ed. Capute & Accardo’s Neurodevelopmental Disabilities in Infancy and Childhood. 3rd ed. Baltimore, MD: Paul H. Brookes Publishing; 2008:519–551
4. Shore R. Rethinking the Brain: New Insights into Early Development. New York, NY: Families and Work Institute; 1997
5. Wynder EL. Introduction to the report on the conference on the “critical” period of brain development. Prev Med. 1998:27(2):166–167
6. National Research Council (United States) and Institute of Medicine (United States) Committee on Integrating the Science of Early Childhood Development, Shonkoff JP, Phillips DA, eds. From Neurons to Neighborhoods: The Science of Early Childhood Development. Washington, DC: National Academies Press; 2000
7. Shonkoff JP, Hauser-Cram P. Early intervention for disabled infants and their families: a quantitative analysis. Pediatrics. 1987;80(5):650–658
8. Majnemer A. Benefits of early intervention for children with developmental disabilities. Semin Pediatr Neurol. 1998;5(1):62–69
9. Bennett FC, Guralnick MJ. Effectiveness of developmental intervention in the first five years of life. Pediatr Clin North Am. 1991;38(6):1513–1528
10. Berlin LJ, Brooks-Gunn J, McCarton C, McCormick MC. The effectiveness of early intervention: examining risk factors and pathways to enhanced development. Prev Med. 1998;27(2):238–245
11. Guralnick MJ. Early intervention for children with intellectual disabilities: current knowledge and future prospects. J Appl Res Intellect Disabil. 2005;18(4):313–324
12. Ramey CT, Bryant DM, Wasik BH, et al. Infant Health and Development Program for low birth weight, premature infants: program elements, family participation, and child intelligence. Pediatrics. 1992; 89(3):454–465
13. McCarton CM, Brooks-Gunn J, Wallace IF, et al. Results at age 8 years of early intervention for low-birthweight premature infants. The Infant Health and Development Program. JAMA. 1997;277(2):126–132
14. Hebbeler K, Spiker D, Bailey D, et al. Early Intervention for Infants and Toddlers With Disabilities and Their Families: Participants, Services, and Outcomes. Menlo Park, CA: SRI International; 2007
15. Glascoe FP, Leew S. Parenting behaviors, perceptions, and psychosocial risk: impacts on young children’s development. Pediatrics. 2010;125(2):313–319
16. Sameroff AJ, Seifer R, Barocas R, Zax M, Greenspan S. Intelligence quotient scores of 4-year-old children: social-environmental risk factors. Pediatrics. 1987;79(3):343–350
17. Campbell FA, Ramey CT, Pungello E, Sparling J, Miller-Johnson S. Early childhood education: young adult outcomes from the Abecedarian Project. Appl Dev Sci. 2002;6(1):42–57
Chia sẻ nội dung này!
Bài viết theo chủ đề
