
BS Phạm Minh Triết
Sự kiện tự tử của học sinh cấp ba gần đây tạo ra nhiều tranh cãi trên các mạng xã hội. Có nhiều ý kiến “ném đá” phụ huynh vì đã tạo áp lực. Một luồng dư luận khác phê phán chương trình giáo dục nặng nề, gây áp lực cho học sinh. Ở chiều ngược lại, cũng có nhiều phụ huynh tán đồng việc chê trách các con vì “làm mình, làm mẩy”, chỉ ích kỷ nghĩ đến bản thân mà không nghĩ đến sự cực khổ của ba mẹ khi nuôi dạy mình.
Theo một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế Giới, cứ 100.000 trẻ từ 15 đến 19 tuổi, có 7,5 trẻ chết do tự tử. Tại Việt Nam, một báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNICEF Việt Nam) cho thấy có 5,7 người chết do tự tử trong 100.000 người ở mọi lứa tuổi. Báo cáo này cũng cho biết, mặc dù tỷ lệ trẻ vị thành niên có ý nghĩ và hành vi tự tử ở Việt Nam chỉ khoảng 2 – 3%, thấp hơn nhiều so với tại Thượng Hải và Đài Bắc nhưng đang có chiều hướng tăng trong tương lai.
Giống như các bất thường về tình trạng sức khỏe tinh thần, không có một nguyên nhân duy nhất dẫn đến hành vi tự tử mà là đó là kết quả của sự tương tác qua lại trong một thời gian dài của nhiều yếu tố. Ở mức độ cá nhân, đó là sự tương tác giữa các yếu tố tình trạng sức khỏe tinh thần (đặc biệt là trầm cảm và căng thẳng), di truyền và sinh học, phản ứng về mặt tâm lý, chất lượng các mối quan hệ với những người xung quanh và những sự kiện bất lợi trong cuộc sống.
Dù chưa xác định chính xác yếu tố di truyền liên quan đến các rối loạn tâm thần, nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ sống trong các gia đình có người thân mắc rối loạn tâm thần có nguy cơ mắc các rối loạn này cao hơn những trẻ sống trong gia đình bình thường. Các nghiên cứu trẻ sinh đôi cho thấy nếu một trẻ mắc rối loạn tâm thần, trẻ còn lại có nguy cơ mắc rối loạn tương tự cao hơn nhiều những trẻ bình thường khác. Điều khó khăn là, khi gặp nhà chuyên môn, nhiều gia đình vẫn ngần ngại khi được hỏi về các rối loạn tâm thần của người thân khác trong gia đình.
Bên cạnh đó, yếu tố sinh học của riêng cá nhân cũng liên quan đến tình trạng sức khỏe tinh thần. Ở những người có sự không cân bằng về nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh trong não dễ có những bất thường về tâm lý. Tương tự, sự tiết quá mức một vài nội tiết tố thần kinh được cho là làm tăng tình trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm. Ngoài ra, giấc ngủ quá dài hoặc quá ngắn cũng được cho là một yếu tố nguy cơ gây ra trầm cảm.
Các phản ứng về mặt tâm lý đóng vai trò quan trọng đối với tình trạng sức khỏe tinh thần. Những người có kiểu nhận thức tiêu cực về bản thân, về tương lai và về xã hội dễ mắc các rối loạn tâm thần cao hơn những người không có nhận thức tiêu cực. Người có góc nhìn thiên về tiêu cực thường có khuynh hướng phóng đại một vấn đề nhỏ thành một sự việc lớn, từ đó xuất hiện thêm nhiều cảm xúc tiêu cực cho bản thân và tăng nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần. Ở chiều ngược lại, suy nghĩ tích cực hiện được xem là một trong những phương pháp kết hợp phòng ngừa và điều trị các rối loạn tâm lý.
Mối quan hệ giữa trẻ và những người xung quanh như bạn bè, cha mẹ, anh chị em, những người thân khác và sự hỗ trợ của cộng đồng là một yếu tố liên quan đến quyết định tự sát. Những chỉ trích, những lời chê bai, dè bỉu ngày qua ngày từ các mối quan hệ là một lực đẩy nhấn chìm trẻ vào khủng hoảng tâm lý và một lúc nào đó, trở thành một giọt nước tràn ly dẫn đến hành động tự tử. Nhiều nghiên cứu cho thấy cách giao tiếp kiểu phán quyết và áp đặt của phụ huynh với trẻ vị thành niên là một trong những yếu tố nguy cơ gây ra mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con, dẫn đến những rối loạn tâm lý ở trẻ. Hơn nữa, những trẻ vị thành niên có vấn đề tâm lý thường tìm cách che dấu cảm xúc tiêu cực của mình cho đến khi không còn chịu đựng được.
Cuối cùng, những sự kiện bất lợi trong cuộc sống cũng có ảnh hưởng đến tình trạng tinh thần của trẻ. Sự kiện bất lợi có thể xem như là những áp lực trong cuộc sống. Mặt tốt của áp lực là trẻ sẽ trưởng thành hơn và cứng cáp hơn khi vượt qua những áp lực này. Về lâu dài, những kinh nghiệm có được khi đối đầu với áp lực giúp trẻ có nhiều khả năng thành công hơn trong cuộc sống. Mặc dù vậy, ở một tỷ lệ nhỏ dân số, áp lực có thể gây ra một số ảnh hưởng tiêu cực về mặt tinh thần và làm tăng nguy cơ tự tử.
Vậy cuộc sống không áp lực liệu có là một giải pháp tốt? Bản thân tôi không nghĩ rằng đây là một điều tốt cho bản thân đứa trẻ lẫn cho xã hội. Trong giai đoạn còn làm tại khoa Tâm lý bệnh viện Nhi đồng 1, tôi gặp không ít phụ huynh mang con đến vì con được nuông chiều quá mức dẫn đến không còn kiểm soát được – hay còn gọi là hội chứng con vua. Vì không có áp lực nên không cần phải cố gắng, vì không có áp lực nên không cần phải phát triển bản thân. Không có nổ lực phát triển bản thân của từng cá nhân, xã hội và đất nước không thể phát triển.
Chương trình giáo dục hiện nay được nhiều phụ huynh đánh giá rằng có rất nhiều áp lực. Nếu so sánh chương trình học cấp 1 giữa Việt Nam và Australia, tôi đồng ý là có sự khác biệt rõ ràng. Chương trình học cấp 1 ở Australia có sự cân bằng giữa các hoạt động học tập, vận động, khám phá và ít bài tập về nhà hơn so với ở Việt Nam. Nhưng từ cấp 2, chương trình học tại Australia cũng có nhiều áp lực. Nhưng tôi cảm nhận rằng, điều khác biệt rõ giữa hai nước đó là mong muốn của phụ huynh.
Phụ huynh ở nước nào cũng mong con mình học giỏi. Nhưng ở Australia, sự mong đợi phù hợp hơn và lý trí hơn. Vài người hàng xóm là người bản xứ tôi nói chuyện cũng có mong ước con học giỏi nhưng kết luận là miễn sao con cố gắng hết sức và vui vẻ là họ hài lòng. Họ cũng tạo áp lực nhưng với mục tiêu là lớn lên làm nghề gì cũng được miễn sao là hợp pháp và tự nuôi sống được bản thân. Ở Việt Nam, tôi vẫn nhớ những buổi chiều đón con lúc còn học lớp 2 về nhà, tôi vẫn bắt gặp cảnh nhiều bạn của con mình được phụ huynh đút cơm ăn ngay tại trường để kịp giờ đi học thêm. Áp lực học tập đã được nhiều phụ huynh đặt lên vai con mình ngay từ đầu cấp 1.
Trong một xã hội, dù ở nước đã hay đang phát triển, tỷ lệ trẻ có nguy cơ tự sát vẫn luôn hiện diện dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau trong một thời gian dài. Áp lực là một phần tất yếu để trẻ phát triển, trưởng thành và chỉ gây tác động tiêu cực với một tỷ lệ nhỏ dân số. Điều quan trọng là phòng ngừa, phát hiện sớm để giảm tối thiểu những trường hợp tự tử hơn là tạo môi trường không áp lực cho tất cả trẻ em vì trẻ em vẫn cần học những kỹ năng và luật lệ để hòa nhập với vào cuộc sống.
Thay vì dấu đi thông tin về người thân trong gia đình có vấn đề về sức khỏe tinh thần, phụ huynh hãy xem đây là một yếu tố giúp phát hiện sớm những vấn đề tương tự ở con mình. Thay đổi cách giao tiếp với con từ phán quyết, áp đặt sang lắng nghe, thảo luận, học cách suy nghĩ tích cực và giúp con có phản ứng tâm lý tích cực là những biện pháp phụ huynh có thể thực hiện giúp ngăn ngừa các rối loạn về sức khỏe tinh thần. Việc trao đổi thường xuyên đúng cách cũng có thể giúp phụ huynh phát hiện sớm những thay đổi tâm lý ở con mình.
Thay các giáo viên bận rộn với việc giảng dạy bằng lực lượng những chuyên viên tâm lý học đường. Sự bận rộn và những trải nghiệm tiêu cực trong lúc giảng dạy học sinh dễ làm giáo viên bỏ qua một vấn đề tâm lý thật sự ở trẻ. Điều này càng trầm trọng hơn khi vào mùa thi, giáo viên thường bận hơn và nguy cơ rối loạn về tâm lý ở học sinh tăng cao do áp lực thi cử. Trong tình hình còn thiếu chuyên viên tâm lý học đường, việc thành lập một nhóm chuyên viên di động cho một vài trường trên cùng một địa bàn có thể là một giải pháp phù hợp. Để tạo thuận lợi cho trẻ, điều kiện liên lạc với chuyên viên tâm lý cần được dễ dàng và chấp nhận hình thức nặc danh vì phần lớn trẻ vị thành niên ngại nói về “điểm yếu” của mình cho người khác biết.
Bs Phạm Minh Triết
Chia sẻ nội dung này!
Bài viết theo chủ đề
