BS Phạm Minh Triết

Hoặc KHI ÁP LỰC KHÔNG TẠO ĐƯỢC KIM CƯƠNG (tôi thích tựa này hơn)

(Bài viết riêng cho Tạp Chí Kinh Tế Sài Gòn, đăng ngày 08/5/2025)

Tôi có vài thân chủ là người trẻ bị trầm cảm có xuất phát điểm giống nhau:

Con học giỏi có tiếng từ nhỏ. Cũng dễ hiểu vì ba mẹ đều là những chuyên gia trong lĩnh vực của mình. Với con, chuyện học cấp 1, cấp 2 chỉ là những cuộc dạo chơi. Con không cần phải gắng sức nhiều mà thành tích các môn học vẫn đạt điểm tối đa, thậm chí con còn có thời gian để tự học thêm vài môn ngoại khóa con thích. Trong mắt người thân và bạn bè, con là một người xuất chúng, không có điểm yếu nào.

Cuối cấp 2, con dễ dàng giành được học bổng toàn phần tại Singapore. Con tiếp tục là một niềm tự hào đối với ba mẹ và những người thân trong gia đình. Với những gia đình biết con, con là tấm gương để các phụ huynh dạy con mình. Sau giai đoạn học hết cấp 3 tại Singapore, con sang Úc học tiếp chương trình đại học, cũng là nơi những khó khăn bắt đầu xuất hiện.

Z., nam, 24 tuổi.

Lúc còn ở Việt Nam, con hầu như không có bạn thân. Có lẽ vì sức học vượt trội so với bạn cùng lứa. Chính vì vậy, con tìm đến niềm vui qua chuyện tự học thêm các nhạc cụ con thích. Vô tình, khả năng này làm con càng nổi trội trong mắt nhiều người vì có tài lẻ. Đã có lúc con cảm thấy buồn vì khó tìm được bạn, nhưng ba mẹ thường gạt đi “cứ học cho giỏi thì thiếu gì bạn muốn chơi”…

Sang Singapore, vì trong lớp chỉ toàn là những học sinh giỏi nên sự cạnh tranh rất cao. Thầy cô cũng thường nhắc đi nhắc lại là tụi con được học tại trường là một đặc ân vì đang sử dụng tiền thuế của người dân Singapore. Dù sức học ngang bằng, nhưng con vẫn không thể nào có được bạn thân. Có lẽ do thời gian học tại Việt Nam không tạo cho con được “thói quen kết bạn”, cũng có thể do sự cạnh tranh cao nên khó có được tình bạn thật sự…

 

W., nữ, 25 tuổi.

Thời gian học tại Việt Nam và Singapore, con chỉ biết đến việc học, hoàn toàn không quan tâm nhiều đến các hoạt động giao tiếp với bạn bè cúng lứa. Thật lòng thì bản thân con cũng không cảm thấy thích hoặc có nhu cầu kết thân với bạn nào. Thời gian rãnh, con thường đọc sách và viết văn. Và vì vậy, hầu hết thời gian con đều chỉ ở bên trong bốn bức tường. Con tự nhận bản thân mình là một người hướng nội. Cũng có lúc con muốn đi chơi đâu đó với bạn bè cuối tuần, nhưng ba mẹ thường cho rằng điều đó là không cần thiết và không quan trọng bằng việc học. Lâu dần thành quen, khi sang Singapore con cũng không thực sự kết nối được với người bạn nào…

 Khi sang Úc và cho đến tại thời điểm này (đã về lại Việt Nam), con nhận ra là những hoạt động phải giao tiếp nói chuyện với mọi người đều làm con mệt mỏi và căng thẳng. Con thà đi làm liên tục một mình hơn là phải tham gia vào các dịp có sự hợp mặt của nhiều gia đình họ hàng hay bạn bè …

Ngoài xuất phát điểm gần giống nhau, cả hai trường hợp trên cũng đều có một điểm tương tự. Những khó khăn con gặp phải, đặc biệt là về cảm xúc đều không được quan tâm kịp thời và phù hợp. Vì được xem là những người xuất chúng so với bạn bè cùng lứa nên ba mẹ của hai bạn này đều “mặc nhiên” cho rằng những khó khăn này không đáng kể và con có thể dễ dàng vượt qua. Một phần phụ huynh dựa trên kinh nghiệm bản thân đã trải qua nhiều khó khăn hơn “So với thời của ba mẹ thì những chuyện này đâu có gì khó khăn. Ba mẹ tự vượt qua được hết”, một phần phụ huynh có suy nghĩ “Các kỳ thì khó như vậy mà con còn vượt qua dễ dàng thì những chuyện này con có thể tự xử lý được”.

“Thật ra, ba mẹ có thể đúng là con có thể vượt qua nhưng điều con cần là sự lắng nghe, sự quan tâm và thông cảm. Con đâu phải là một cái máy mà suốt ngày chỉ có học, học và học. Con cũng không phải là “một công cụ” để ba mẹ khoe thành tích, con có cảm giác là con học vì ba mẹ, chưa bao giờ con có được cảm giác rõ ràng là con thích gì, con tự hào gì về bản thân mình. Con cảm thấy những gì mình trải qua, có được là do sự ép buộc của ba mẹ. Con chưa bao giờ được ba mẹ hay ai đó lắng nghe những khó khăn của mình. Cứ lầm lũi chịu đựng cho đến khi không chịu đựng được nữa… Ngay cả khi con nói về tình trạng trầm cảm con đang mắc mà ba mẹ vẫn không tin là thật …”. (Z.)

Khi nhìn lại hành trình trưởng thành của Z. và W., tôi tự hỏi liệu ba mẹ có hiểu rằng áp lực không phải lúc nào cũng là chìa khóa thành công? Câu chuyện của họ cho thấy một điều mà ít phụ huynh nhận ra: cảm giác cô đơn và sức chịu đựng của con cái, những cảm xúc mà không ai lắng nghe kịp thời.

Nhiều phụ huynh cho rằng con cái có thể vượt qua mọi khó khăn chỉ vì chúng học giỏi. Tuy nhiên, sự xuất sắc trong học tập không đồng nghĩa với trưởng thành về cảm xúc hay xã hội. Trẻ cần học cách đối diện với cảm xúc, xây dựng mối quan hệ và yêu thương bản thân. Vì vậy, phụ huynh cần biết cách “ép” và “lắng nghe” một cách cân bằng. “Ép” ở đây không có nghĩa là tạo áp lực mà là khuyến khích con thử thách bản thân, dám đối diện với khó khăn, nhưng với sự tôn trọng và thấu hiểu.

Lắng nghe là một yếu tố quan trọng giúp trẻ tự tin và đối mặt với thử thách. Ba mẹ cần dành thời gian hỏi con về cảm xúc của chúng, những khó khăn mà chúng không thể chia sẻ với ai. Việc lắng nghe không phán xét giúp con cảm nhận được sự quan tâm, yêu thương và chấp nhận.

Khi Z. và W. nói rằng họ cảm thấy bị ép buộc và không bao giờ được lắng nghe, tôi nhận ra rằng nhiều trẻ tài năng phải chịu đựng cảm giác trống rỗng. Nếu ba mẹ chỉ chú trọng thành tích mà không để ý đến cảm xúc của con, chúng có thể cảm thấy cô đơn và mất phương hướng.

Để hỗ trợ con, ba mẹ cần tạo ra môi trường không có áp lực quá lớn. Nếu con chỉ cảm thấy mình là công cụ để ba mẹ tự hào, thành tích sẽ trở thành gánh nặng. Hãy quan tâm con bằng những hành động nhỏ, như hỏi thăm về tâm trạng hàng ngày hoặc cùng tham gia các hoạt động ngoài học tập. Không ai hoàn hảo ngay từ đầu, và trẻ tài năng cũng cần sự hỗ trợ toàn diện. Ba mẹ không chỉ là người giáo dục mà còn là người bạn đồng hành, là người lắng nghe và thấu hiểu. Lắng nghe con không phải để sửa chữa hay đưa ra lời khuyên, mà để con cảm nhận được yêu thương và chấp nhận. Hãy để con biết rằng không cần phải hoàn hảo. Con luôn có ba mẹ ở bên, yêu thương và chấp nhận tất cả mọi thứ về mình.

Câu chuyện của Z. và W. là một lời nhắc nhở đầy sâu sắc về sự trưởng thành không chỉ đo bằng thành tích học tập mà còn bằng những cảm xúc, những khó khăn mà mỗi đứa trẻ phải trải qua. Thành công thật sự không phải là một con số trên giấy tờ hay một tấm huy chương, mà là khả năng đối diện với bản thân và thế giới xung quanh với lòng dũng cảm và sự tự tin.

Áp lực có thể tạo nên kim cương, nhưng chính sự yêu thương và thấu hiểu mới là chất xúc tác giúp kim cương ấy sáng ngời. Như Carl Jung* đã từng nói: “The privilege of a lifetime is to become who you truly are.” – Đặc quyền của một cuộc đời là trở thành chính mình. Mỗi đứa trẻ không cần phải trở thành một viên kim cương giống nhau, mà là phải được giúp đỡ để trở thành viên kim cương hoàn hảo nhất, theo cách riêng của mình. Khi con cảm nhận được tình yêu vô điều kiện, sự chấp nhận trọn vẹn và lòng thấu hiểu từ những người xung quanh, đó chính là lúc con tìm thấy ánh sáng của chính mình, mạnh mẽ đứng vững và tỏa sáng.

TS.BS Phạm Minh Triết

* Carl Jung (1875–1961) là một trong những nhà tâm lý học nổi bật và có ảnh hưởng sâu rộng trong thế kỷ 20.

 

Chia sẻ nội dung này!

Để lại bình luận của bạn