
BS Phạm Minh Triết
Nhiều người thường thắc mắc vì sao tôi lại mất nhiều thời gian để khám cho một em bé hơn những bác sĩ khác. Lý do đơn giản là tôi cần nhiều thời gian để tìm hiểu những hành vi được xem là “không mong đợi” ở trẻ.
Trong y học hiện đại, việc đánh giá các vấn đề hành vi thường có ba hướng chính. Hướng thứ nhất, vốn phổ biến ở bác sĩ, là tìm các biểu hiện đi kèm rồi tổng hợp lại, đưa ra chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế như DSM hay ICD. Hướng thứ hai là dùng các bảng đánh giá chuyên sâu cho từng vấn đề, ví dụ khi nghi ngờ trầm cảm thì dùng thang đo PHQ, khi nghĩ đến rối loạn phổ tự kỷ thì dùng ADOS. Cả bác sĩ, chuyên viên tâm lý hay những người làm chuyên môn liên quan đều có thể áp dụng hướng này, miễn là đã được huấn luyện. Hướng thứ ba là tìm hiểu kỹ những thông tin xoay quanh hành vi không mong đợi chính, như điều gì xảy ra trước, sau hành vi, và yếu tố nào khởi phát nó. Cách này thường do chuyên viên tâm lý áp dụng.
Việc điều trị luôn được khuyến khích theo hướng toàn diện, lấy người bệnh làm trung tâm và dựa trên bằng chứng khoa học. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào một trong ba hướng đánh giá trên thì việc can thiệp dễ không đầy đủ, thậm chí sai lệch.
Để minh họa, tôi kể một trường hợp quen thuộc. Nam (tên đã được thay đổi), bé trai 4 tuổi. Nam thường tăng động, chống đối yêu cầu của người lớn, dễ tức giận và có thể đánh chửi bất kỳ ai khi không vừa ý. Nam từng được chẩn đoán rối loạn hành vi, theo dõi rối loạn tăng động giảm chú ý. Bé được kê thuốc, có cải thiện một phần. Nhưng khi giảm liều, các hành vi lại bùng lên, thậm chí nặng hơn. Gia đình băn khoăn: “Có cách nào khác ngoài thuốc không? Chẳng lẽ con phải uống thuốc suốt đời?”
Nếu nhìn ở góc độ chẩn đoán, Nam có đầy đủ dấu hiệu của rối loạn thách thức chống đối: hay nổi nóng, dễ cáu gắt, tranh cãi với người lớn, cố tình chống lại quy tắc, thường chọc tức người khác, đổ lỗi cho người xung quanh, và giữ thái độ thù địch. Những hành vi này kéo dài trên 6 tháng và ảnh hưởng nhiều đến quan hệ, sinh hoạt hàng ngày.
Khi dùng bảng đánh giá chuyên sâu, kết quả cũng khẳng định Nam có đủ điểm để chẩn đoán xác định rối loạn thách thức chống đối.
Nhưng nếu đi xa hơn, tìm hiểu bối cảnh xung quanh, ta sẽ thấy một bức tranh khác. Về trí tuệ, Nam phát triển bình thường như một bé 4 tuổi. Tuy nhiên, kỹ năng giao tiếp chỉ tương đương 3 tuổi rưỡi, kỹ năng tự lập và xã hội còn thấp hơn, chỉ như trẻ 2 tuổi. Bé không có dấu hiệu tự kỷ. Một giả thuyết đặt ra: Nam được cưng chiều quá mức, mọi người luôn chiều theo ý bé, dẫn đến các biểu hiện hiện tại.

Hình minh họa là mô hình Bronfenbrenner tôi thường dùng để phân tích các vấn đề sức khỏe ở con người. Bạn đọc có thể dễ dàng thấy rằng tuổi càng lớn, càng có nhiều yếu tổ ảnh hưởng và càng khó thay đổi.
Điều này dần sáng tỏ khi tôi hỏi thêm gia đình. Về phát triển nhận thức, trẻ ở giai đoạn 2–7 tuổi thường mang tính “trung tâm”, nghĩa là khó nhìn sự việc từ góc nhìn người khác. Đây vốn là đặc điểm bình thường. Nhưng trong trường hợp Nam, vì là cháu trai đầu lòng, nên được ông bà và cha mẹ chiều hết mực. Muốn gì được nấy. Điều này khiến Nam càng tin rằng mọi người phải làm theo mình. Khi bị ngăn cản, Nam chống đối. Mà hầu hết lần đó, người lớn lại nhượng bộ, tạo thành thói quen bướng bỉnh.
Khi đi học, giáo viên cũng nhận ra vấn đề. Mẹ Nam đồng ý, nhưng khi trao đổi với ba và ông bà thì lập tức có tranh cãi. Ông bà nói thẳng: “Tao nuôi dạy ba má nó được, không lẽ không biết nuôi dạy nó.” Thế là ý kiến của mẹ và giáo viên bị gạt bỏ. Nam học trường tư, học phí cao, nên cuối cùng giáo viên cũng không gây sức ép, đành để yên. Và những thói quen chống đối của Nam ngày càng được duy trì.
Nam quen với việc có người phục vụ tận nơi. Bé chẳng cần học kỹ năng giao tiếp, chẳng cần tự lập trong sinh hoạt như đi vệ sinh, ăn uống. Kết quả là dù trí tuệ bình thường, các kỹ năng khác đều chậm nhiều so với tuổi.
Nếu dừng lại ở đây, tôi thường giữ hai giả thuyết: một, Nam thực sự có rối loạn thách thức chống đối; hai, những gì ta thấy chỉ là kết quả của cách nuôi dạy. Dù giả thuyết nào đúng, thì cách can thiệp không dùng thuốc vẫn giống nhau: những người chăm sóc Nam phải thay đổi cách dạy con. Và đây mới là hành trình gian nan, dài lâu.
Sau sáu tháng hướng dẫn, mẹ Nam đã thay đổi được phần nào, nên khi ở với mẹ, tình hình tạm ổn. Nhưng khi ở cùng người khác thì mọi chuyện lại rối như cũ. Con đường phía trước còn nhiều thử thách…
Tôi cũng gặp không ít trẻ vị thành niên được đưa đến với tình trạng chống đối. Khi lần lại quá trình phát triển, tôi thấy bối cảnh rất giống Nam: cũng được nuông chiều từ nhỏ, cũng quen với việc muốn gì được nấy. Nhưng giờ thì trẻ đã lớn, mạnh mẽ hơn, cha mẹ không thể kiểm soát nổi. Và ở tuổi này, tôi cũng lắc đầu, nếu bản thân trẻ không muốn thay đổi thì gần như không ai làm được. Ở tuổi này, làm căng thì trẻ dễ đi bụi; không làm căng thì gia đình phải chịu đựng trẻ mỗi ngày. Có trẻ sống ở nước ngoài, ba mẹ cho về Việt Nam sống với dì vài tháng thì ổn, nhưng trở lại sống với ba mẹ thì xuất hiện lại vấn đề. Ông bà mình nói đúng “Dạy con từ thuở còn thơ”.
#bsphamminhtriet, #nuoidaycon, #parenting, # Bronfenbrenner.
Bs Phạm Minh Triết
P/S: Bác sĩ Triết làm việc tại Phòng Khám từ 9/10/2025 đến 4/11/2025. Phụ huynh nhắn tin qua hộp thư FB này hoặc liên hệ Phòng Khám để được hướng dẫn đăng ký khám trực tiếp.
Chia sẻ nội dung này!
Bài viết theo chủ đề
