BS Phạm Minh Triết

Những bất thường liên quan đến giấc ngủ là một trong những vấn đề thường gặp ở trẻ em. Ở trẻ tự kỷ, tỷ lệ này thường cao hơn so với trẻ phát triển bình thường. Trong 10 trẻ tự kỷ thì có từ 6 đến 8 trẻ gặp những khó khăn liên quan đến giấc ngủ (1). Ở trẻ bình thường, trong 10 trẻ thì có 5 trẻ gặp những vấn đề liên quan đến giấc ngủ (2). Những vấn đề về giấc ngủ thường gặp ở trẻ tự kỷ cũng tương tự như ở trẻ phát triển bình thường.

Giấc ngủ có chất lượng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ em. Những vấn đề làm giảm chất lượng của giấc ngủ sẽ tác động xấu đến cảm xúc, hành vi và nhận thức của trẻ. Trẻ có thể bị suy giảm trong những sinh hoạt hàng ngày, khả năng tư duy và học tâp. Trẻ cũng có thể có những rối loạn về tâm lý như hung hăng, bực bội, cảu kỉnh hoặc trầm cảm. Một số biểu hiện bất thường trong giấc ngủ cũng có thể là một biểu hiện của một tình trạng rối loạn tâm lý như rối loạn lo âu hoặc trầm cảm. Ở trẻ tự kỷ, những vấn đề trong giấc ngủ còn có thể làm trẻ giảm khả năng giao tiếp và tương tác xã hội (3).

Không chỉ bản thân trẻ, những thành viên khác trong gia đình cũng bị ảnh hưởng. Trẻ thức giấc giữa đêm sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ của những thành viên khác trong gia đình. Những bất thường trong cảm xúc, hành vi và khả năng nhận thức của trẻ do vấn đề giấc ngủ gây ra là những mối lo lắng của phụ huynh.

Những vấn đề khó khăn trong giấc ngủ ở trẻ em có thể chia thành 2 nhóm: liên quan đến y khoa và liên quan đến hành vi. Về y khoa, những bệnh lý làm tắc nghẽn đường thở là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ. Một số nguyên nhân thường gặp gồm A-mi-đan phì đại, V.A phì đại, nghẹt mũi, hen phế quản.

Ngủ không đủ thời gian (thiếu ngủ) là một trong những vấn đề về giấc ngủ liên quan đến hành vi. Thiếu ngủ là tình trạng trẻ có tổng thời gian ngủ trong ngày ít hơn thời gian ngủ đầy đủ được khuyến cáo. (Xem bài Thời gian giấc ngủ ở trẻ em để biết thêm chi tiết). Trẻ mắc tự kỷ hoặc rối loạn tăng động kém chú ý cũng thường có tình trạng thiếu ngủ (2,4).

Bên cạnh vấn đề thiếu ngủ, trẻ cũng có thể gặp những vấn đề khác như khó bắt đầu giấc ngủ, thời gian bắt đầu ngủ muộn, mộng du, buồn ngủ vào ban ngày, khó ngủ liên quan đến hành vi (2–4). Một số ít gặp hơn là trẻ có cơn hoảng loạn trong khi ngủ, ác mộng và hội chứng chân không yên (2,4).

Trẻ được xem là khó bắt đầu giấc ngủ khi bắt đầu ngủ trể hơn 2 giờ so với giờ ngủ thông thường. Tình trạng này thường gặp ở trẻ từ 13 đến 19 tuổi hơn là ở trẻ nhỏ, lý do là vì trẻ vị thành niên bắt đầu có nhiều hoạt động xã hội và có nhịp sinh học kéo dài. Trong khi đó, mộng du là khi trẻ có biểu hiện đi lại trong khi ngủ và trẻ thường không nhớ gì khi tỉnh giấc. Khó ngủ liên quan đến hành vi là tình trạng trẻ khó bắt đầu giấc ngủ hoặc không thể ngủ ngon do thiếu một hoặc những kích thích từ môi trường xung quanh, ví dụ như trẻ không ngủ được nếu không được đu đưa hoặc không ngủ ngon nếu không có ai đó xoa nhè nhẹ ở lưng trong giấc ngủ (2). Người viết từng gặp một trường hợp trẻ bị khó ngủ liên quan đến hành vi kéo dài từ lúc vài tháng tuổi cho đến gần 3 tuổi.


(Một trường hợp rối loạn giấc ngủ trong thực tế:

https://vnexpress.net/khong-co-loi-thoat-vi-dem-nao-con-cung-quay-khoc-3274090.html )

Cơn hoảng loạn trong khi ngủ có biểu hiện tương tự như tình trạng trẻ gặp ác mộng nhưng có một số điểm khác biệt rõ. Trong cả hai trường hợp, trẻ thường có tình trạng hoảng loạn như giật mình, hốt hoảng, la hét, tim nhanh, thở nhanh, toát mồ hôi nhiều. Điểm khác biệt giữa hai trường hợp là: cơn hoảng loạn trong khi ngủ thường xuất hiện ở nửa đầu của giấc ngủ, trẻ trong cơn hoảng loạn thường ở trạng thái ngủ và hoàn toàn không nhớ gì về nội dung gây hoảng loạn. Trẻ gặp ác mộng thường thức giấc ở trạng thái tỉnh, nhớ được nội dung của giấc mơ. Hội chứng chân không yên là tình trạng trẻ có cảm giác bồn chồn, khó chịu ở chân làm trẻ phải di chuyển chân để giảm cảm giác khó chịu. Biểu hiện thường rõ vào ban đêm khi trẻ ngủ (2,4).

Để cải thiện những vấn đề liên quan đến giấc ngủ ở trẻ, một trong những hành động đầu tiên là thực hiện việc vệ sinh giấc ngủ. Vệ sinh giấc ngủ là việc thay đổi chế độ sinh hoạt, ăn uống, môi trường tạo thuận lợi cho việc ngủ (Xem bài Vệ sinh giấc ngủ để biết thêm chi tiết).

Đối với trường hợp khó ngủ liên quan đến hành vi, việc điều trị là một tiến trình can thiệp hành vi dài. Phụ huynh được hướng dẫn và thực hiện những kỹ thuật can thiệp để thay đổi những vấn đề môi trường liên quan đến giấc ngủ của trẻ.

(Trường hợp trên được hỗ trợ hướng dẫn can thiệp qua email. Tổng thời gian điều trị là 2 tháng).

Trong một số trường hợp, trẻ có thể cần dùng thêm một số thuốc giúp trẻ dễ ngủ hơn. Những thuốc được khuyến cáo sử dụng thường là những loại không gây ra sự lệ thuộc thuốc cho trẻ. Cách sử dụng thuốc thường đa dạng nhưng thường theo 3 hướng: (i) bổ sung những chất làm êm dịu thần kinh thường bị thiếu hụt, (ii) sử dụng thuốc điều trị một bệnh khác nhưng có tác dụng gây ngủ, (iii) dùng thảo dược có tác dụng gây ngủ. Một số trường hợp ít đáp ứng với những phương pháp trên, việc sử dụng thuốc an thần có thể được xem xét nhằm tạo được hiệu quả mong muốn và hạn chế tối đa những tác dụng phụ đi kèm. Vì vậy, việc điều trị thuốc cần có sự theo dõi và hướng dẫn của các bác sĩ chuyên khoa (tâm thần nhi, thần kinh nhi, nhi khoa phát triển và hành vi).

Ở những trường hợp khó ngủ liên quan đến y khoa như tình trạng khó thở, đau tai, … việc đánh giá và can thiệp chuyên sâu cần có sự tham gia của bác sĩ nhi khoa chuyên về hô hấp hoặc tai mũi họng. Những trường hợp ảnh hưởng trầm trọng đến giấc ngủ liên quan đến sự phì đại của A-mi-đan hoặc V.A, việc điều trị thường là phẫu thuật để cắt bỏ các khối phì đại (2,4).

ThS. BS. Phạm Minh Triết

Tài liệu tham khảo

  1. Souders MC, Zavodny S, Eriksen W, Sinko R, Connell J, Kerns C, et al. Sleep in Children with Autism Spectrum Disorder. Curr Psychiatry Rep. 2017 Jun;19(6):34.
  2. Carter KA, Hathaway NE, Lettieri CF. Common Sleep Disorders in Children. AFP. 2014 Mar 1;89(5):368–77.
  3. Chen H, Yang T, Chen J, Chen L, Dai Y, Zhang J, et al. Sleep problems in children with autism spectrum disorder: a multicenter survey. BMC Psychiatry. 2021 Aug 16;21(1):406.
  4. American Academy of Pediatrics. AAP Developmental and Behavioral Pediatrics. 2nd ed. 2018.

 

Chia sẻ nội dung này!

Để lại bình luận của bạn