BS Phạm Minh Triết

Chuyện kiểm tra miệng đầu giờ (không phải là há miệng ra để xem miệng còn dính thức ăn hay không mà là kiểm tra xem có học bài ở nhà hay không ???? ) là một kinh nghiệm mà gần như học sinh ở Việt Nam cũng từng trải qua. Gần đây, một khuynh hướng muốn bỏ hoạt động này vì cho rằng không có giá trị cũng như dễ gây lo lắng cho học sinh. Khuynh hướng cũ cho rằng việc bỏ kiểm tra miệng chỉ làm học sinh thêm “hư” và không cố gắng.

Cảm xúc của tôi về việc kiểm tra miệng này lẫn lộn giữa thích và không thích. Xét cho cùng, tôi là một đứa không thích học thuộc bài từng câu từng chữ. Vì vậy, tôi ít khi đạt điểm tối đa trong hầu hết các lần kiểm tra miệng. Cũng như trong lúc đi học, không phải lúc nào tôi cũng học bài đầy đủ để chuẩn bị cho ngày hôm sau.

Một trong những kỷ niệm đáng nhớ là một lần tôi được gọi lên trả bài “Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Bài này nếu ai đã đọc qua mà không yêu thích thơ văn thì rõ ràng là khó thuộc vô cùng, mà hôm đó tôi cũng học ở nhà và tự trấn an bằng suy nghĩ “một lớp 50 người, không lẽ gọi trúng mình sao. Xui lắm mới bị”. Nhưng rất tiếc, số của tôi “bị xui hoài”. Thế là từ chổ ngồi đi lên đến bàn cô giáo, tôi kịp học thuộc 3 câu, và khi trả bài thì rất “hùng hồn” đọc 3 câu đó (để tạo cảm giác ấn tượng là mình học thuộc bài). Sau 3 câu thì tôi phải chờ những đứa bạn bên dưới hỗ trợ, và áp dụng chiến thuật câu giờ. Tôi cười và cả lớp cười trong lúc quan sát miệng của một đứa gần đấy đang nhắc bài cho mình. Cô cũng nghĩ là vì các bạn cười nên tôi không tiếp tục được nên nhắc cả lớp im lặng để tôi tiếp tục. Và cứ vậy, tôi tiếp tục được thêm 5 câu nữa thì cô cho về với 8 điểm.

Một lần khác là giờ Sinh vật, tôi cũng không học bài ở nhà và bị “xui” tiếp tục. Lần này tôi cũng dùng chiêu tương tự nhưng không hiệu quả. Cô giáo rất tinh ý nhận ra là tôi không thuộc bài nên nhẹ nhàng hỏi “em quên học bài phải không?”, tôi bẽn lẽn “dạ” (dù gì thì lúc đó tôi cũng được xem là một trong vài học sinh học giỏi của lớp – thời tôi học, cả lớp chỉ khoảng 5, 6 học sinh là đạt được danh hiệu học sinh giỏi). Sau đó, cô lấy viết chì ghi vào chữ “cho nợ, tiết tới trả”. Nhưng dù tôi luôn chuẩn bị bài thật kỹ để trả “nợ” nhưng những tiết sau đó thì cô không bao giờ gọi nữa cho đến hết học kỳ. Dù có không vui vì chuyện luôn phải chuẩn bị tốt sau đó nhưng về sau nhờ vậy mà tôi “nhẹ gánh” được việc ôn bài thi học kỳ.

Giáo dục khai phóng đặt nặng việc tư duy, sáng tạo dựa trên nền tảng kiến thức đã học được. Vì vậy, những hình thức học thuộc lòng từng câu chữ rồi trả bài (kiểm tra miệng) hay viết lại nguyên văn từng câu chữ như thầy cô đã dạy ví học sinh như những cái máy thu âm, ghi vào rồi phát ra, em nào phát đúng nguyên gốc nhất (đến từng dấu chấm phẩy) thì đạt điểm cao nhất. Hay một cách ví von tệ hơn là “ăn vào, ợ ra”.

Cách dạy ở Australia, theo góc nhìn của tôi, dựa trên kiểu giáo dục khai phóng. Đứa nhỏ nhà tôi học cấp một, mỗi ngày đến trường với con là một niềm vui. Vì vậy, hôm nào ở nhà thì cứ đi ra đi vào rồi than “chán quá”. Lớp học không được bố trí theo các dãy bàn ngay ngắn, thẳng tắp như ở Việt Nam, mà được xếp rải rác khắp lớp. Với mỗi kiến thức được dạy, học sinh làm việc với nhau theo nhóm nhỏ để làm các bài tập ứng dụng cho kiến thức đó. Trẻ được dạy những kỹ năng mềm để bổ trợ cho việc thực hiện các bài tập này, ví dụ như crafting (giống như khéo tay hay làm), tìm thông tin trên mạng (và kèm theo là những kỹ năng để phòng tránh bị lừa, bị bắt nạt trên mạng), hoặc kỹ năng chuẩn bị bài thuyết trình trên một ứng dụng tương tự như Powerpoint, nhưng dùng trực tuyến), kỹ năng làm việc nhóm, …Các nội dung học thì liên quan mật thiết đến cuộc sống hàng ngày. Ví dụ học về cuộc sống qua một trò chơi “The Game of Life” (Trò chơi về cuộc sống) hoặc gần đây nhất là việc Trưng cầu dân ý sắp diễn ra ở Australia (sẽ viết kỹ hơn vào một bài khác).

Đứa lớn học cấp 2 vẫn theo nguyên tắc của kiểu giáo dục dựa nhiều vào tư duy và sáng tạo nhưng ở một mức cao hơn. Những chủ đề học nghiêm túc hơn nhưng cũng gần với thực tế. Ví dụ một môn học về sức khỏe, con được cho một tình huống mâu thuẫn giữa một người mẹ và một học sinh tuổi teen. Con phải phân tích các vấn đề đang xảy ra trong gia đình, vấn đề này ảnh hưởng như thế nào đến tinh thần của học sinh này. Các giải pháp có thể giúp đỡ gia đình này từ phía bản thân gia đình, trường học và xã hội. Hoặc con học các môn lựa chọn như nấu ăn, may vá và được thực hành thực tế tại trường.

Kiểu học thuộc lòng hay kiểu khai phóng đều có điểm mạnh và điểm không mạnh. Ví dụ, ở Australia, chuyện học sinh không học thuộc lòng được bảng cửu chương là một điều bình thường vì không ai bắt học. Kết quả là tỷ lệ học sinh giỏi toán người gốc Châu Á thường cao hơn người không gốc Châu Á. Nhìn xa hơn, tỷ lệ người làm công việc IT hoặc liên quan đến tính toán có gốc Châu Á cao hơn.

Ở góc độ tâm lý, có vẻ như nhiều người nghĩ rằng việc giáo dục gò ép kiểu của Châu Á thường mang đến nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần hơn (?). Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy điều này là không chính xác (1). Nhưng việc để trẻ em “tự do” quá mức trong việc học tập (khi mà suy nghĩ chưa đủ trưởng thành) cũng không phải là một điều tốt. Ngay cả hệ thống giáo dục được ngưỡng mộ của Phần Lan cũng có những nghi ngờ về tính hiệu quả về điểm số (2).

Một ví dụ khác là cuốn sách “Battle Hymn of the Tiger Mother” của Amy Chua, một giáo sư luật người Mỹ, thảo luận về sự đối lập giữa giáo dục kiểu Châu Á và Phương Tây. Tác phẩm này giới thiệu thuật ngữ “mẹ hổ” và kể về cuộc sống của một người mẹ với hai con gái và hai con chó. Ban đầu, nó dự định tập trung vào cách cha mẹ Trung Quốc nuôi dạy con cái hiệu quả hơn so với phương Tây, nhưng cuối cùng biến thành một câu chuyện về xung đột văn hóa và những thử thách trong cuộc sống. Cuốn sách gây tranh cãi khi trích dẫn từ nó về việc nuôi dạy con theo kiểu “mẹ Trung Quốc,” mặc dù tác giả khẳng định đó chỉ là một cuốn tự truyện cá nhân và không phải hướng dẫn cụ thể. Chua định nghĩa “mẹ Trung Quốc” rộng rãi để áp dụng cho các bậc cha mẹ từ các nền văn hóa khác nhau nhưng tuân theo các phương pháp nuôi dạy con nghiêm khắc theo truyền thống.

Tóm lại, kiểu giáo dục nào cũng có những vấn đề của riêng nó và tùy thuộc vào góc nhìn của văn hóa. Thả lỏng hay xiết chặt đều có nguy cơ. Xét cho cùng, ba mẹ nào cũng muốn con mình vừa có công việc tốt, có thu nhập tốt và hạnh phúc. Nhưng lười quá (do được thả lỏng) thì ít có việc tốt, bị ép quá thì ít có hạnh phúc. Về quan điểm cá nhân, tôi luôn tạo áp lực cho con mình và “lắng nghe” những đáp ứng của con khi chịu áp lực để điều chỉnh, miễn sao con có thể phát triển hết khả năng của bản thân và hạnh phúc với điều đó. Chuyện kiểm tra miệng cũng sẽ không cần thiết nếu như học sinh đã có những hình thức khác giúp trẻ vui học hàng ngày.

Bs Phạm Minh Triết

 

  1. Dessauvagie AS, Dang HM, Nguyen TAT, Groen G. Mental Health of University Students in Southeastern Asia: A Systematic Review. Asia Pac J Public Health. 2022 Mar;34(2–3):172–81.
  2. Finland’s education system is failing. Should we look to Asia? – Big Think

Chia sẻ nội dung này!

Để lại bình luận của bạn