
BS Phạm Minh Triết
Những hành vi gây rối (ví dụ như không vâng lời, la hét ăn vạ, đánh người khác) là những biểu hiện bình thường thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em từ 2 đến 3 tuổi (1). Những hành vi này giảm dần khi trẻ trưởng thành về kỹ năng giao tiếp, tương tác xã hội và kiểm soát bản thân (2). Tuy vậy, ở một số trẻ em, những hành vi này tiếp tục phát triển, xảy ra thường xuyên trong nhiều tình huống và hoàn cảnh, ảnh hưởng rõ đến khả năng học tập, hòa nhập. Lúc này, những hành vi gây rối không còn ở mức bình thường mà trở thành Rối Loạn Hành Vi Gây Rối (RLHVGR) (3).
Nam là một học sinh lớp 4 được cả ba và mẹ đưa đi khám vì em thường xuyên đánh bạn ở trường. Theo lời kể của người mẹ, chỉ trong 2 tuần nhập học, Nam đã gây sự và đánh nhau với 3 bạn khác, chưa kể là vô số lần chọc ghẹo những bạn khác trong lớp học. Đây là một trường hợp khó vì bản thân ba của Nam cũng thường đánh mọi người trong gia đình và xem chuyện đánh nhau là bình thường nên không chấp nhận đây là một rối loạn cần được can thiệp. Mẹ của Nam muốn con được can thiệp nhưng vì sợ ba Nam nên cuối cùng cũng không tiếp tục tái khám.
Thống kê tại Mỹ cho thấy, cứ 100 trẻ em thì có khoảng 7 em mắc rối loạn hành vi gây rối (4). Tại Việt Nam, trong 100 trẻ em từ 6 đến 16 tuổi có khoảng 7 trẻ có vấn đề hành vi gây rối (5). Hai rối loạn thường được đề cập đến trong RLHVGR là Rối Loạn Thách Thức Chống Đối – RLTTCĐ (Oppositional Defiant Disorder – ODD) và Rối Loạn Cư Xử (Conduct Disorder – CD) (6,7).
Biểu hiện của RLTTCĐ thường liên quan đến những biểu hiện gây rối trong lúc trẻ tương tác với người khác. Trẻ thường có biểu hiện dễ bực bội, dễ bị tức giận và rất dễ mất bình tĩnh. Trẻ thường hay tranh cãi với người lớn, hay chọc ghẹo bạn và thường đổ lỗi của bản thân cho người khác (6,7).
Biểu hiện ở trẻ mắc Rối Loạn Cư Xử thường đa dạng và liên quan đến sự vi phạm trầm trọng những nguyên tắc xã hội hoặc luật pháp. Trẻ thường nói dối hoặc không giữ lời hứa, hay gây sự đánh nhau, thích sử dụng vũ khí gây hại cho người khác, độc ác với thú vật, phá hoại tài sản (đập, phá, đốt), trốn học, bỏ nhà. Ở một số trường hợp, trẻ có thể thường trộm cắp, móc túi, bắt nạt người khác hoặc thậm chí đột nhập vào nhà của người khác (6,7).
Tỷ lệ trẻ nam mắc RLHVGR cao hơn so với nữ. RLHVGR thường mắc kèm với các rối loạn tâm lý khác, thường gặp nhất là RL Tăng Động Kém Chú Ý (RLTĐKCY), trầm cảm và những RL liên quan đến việc sử dụng chất kích thích (8).
Việc đánh giá và chẩn đoán rối loạn chủ yếu dựa trên việc phỏng vấn những người xung quanh về cách cư xử của trẻ, đồng thời đánh giá thêm những rối loạn khác đi kèm và loại trừ những nguyên nhân có thể gây biểu hiện tương tự (7,8). Đáng chú ý là những khác biệt về văn hóa có thể ảnh hưởng đến việc diễn giải và nhận diện sớm các rối loạn tâm lý tâm thần ở trẻ em (9,10). Như trong ví dụ trên, dù Nam đã được chẩn đoán có Rối Loạn Cư Xử nhưng không được phụ huynh xem như là một rối loạn thật sự mà chỉ là một cách cư xử bình thường để giải quyết những mâu thuẫn trong cuộc sống. Từ đó dẫn đến tình trạng là trẻ không nhận được sự hỗ trợ và can thiệp phù hợp.
Trị liệu hành vi là phương pháp can thiệp ban đầu và nền tảng cho RLHVGR. Việc sử dụng thuốc thường chủ yếu dùng để điều trị những rối loạn đi kèm như RLTĐKCY, trầm cảm, lo âu. Trong trị liệu hành vi, phụ huynh và những người xung quanh trẻ được hướng dẫn và áp dụng những kỹ thuật điều chỉnh hành vi. Mục tiêu của phương pháp là giúp trẻ có được nhiều hành vi tích cực và giảm thiểu những hành vi gây rối (7,8). Nhiều nghiên cứu cho thấy phương pháp trị liệu hành vi khi trẻ ở độ tuổi trước khi đi học (từ 3 đến trước 6 tuổi) đạt được kết quả tốt trong việc can thiệp và điều trị RLHVGR (11).
Lời kết:
Trong quá trình còn làm việc tại Khoa Tâm Lý – Bệnh viện Nhi đồng 1 TP. Hồ Chí Minh, người viết nhận thấy phần lớn những trẻ được chẩn đoán RLHVGR thường được xem là học sinh cá biệt hoặc trẻ hư. Và vì vậy, những trẻ này thường nhận được cách đối xử dành cho trẻ “cá biệt” như chửi mắng, đánh đòn hơn là nhận được một điều trị dựa trên chứng cớ khoa học. Với bài viết này, người viết hy vọng phụ huynh, giáo viên và những người làm công tác chuyên môn có được sự thay đổi trong cách đối xử với nhóm trẻ này.
ThS. BS. Phạm Minh Triết
(* Tên do người viết đặt để mô tả một trong nhiều trường hợp có thật)
Tài liệu tham khảo
1. Alink LRA, Mesman J, van Zeijl J, Stolk MN, Juffer F, Koot HM, et al. The Early Childhood Aggression Curve: Development of Physical Aggression in 10- to 50-Month-Old Children. Child Development. 2006;77(4):954–66.
2. Tremblay RE. Developmental origins of disruptive behaviour problems: the ‘original sin’ hypothesis, epigenetics and their consequences for prevention. Journal of Child Psychology and Psychiatry. 2010;51(4):341–67.
3. Canino G, Polanczyk G, Bauermeister JJ, Rohde LA, Frick PJ. Does the Prevalence of CD and ODD Vary across Cultures? Soc Psychiatry Psychiatr Epidemiol. 2010 Jul;45(7):695–704.
4. Ghandour RM, Sherman LJ, Vladutiu CJ, Ali MM, Lynch SE, Bitsko RH, et al. Prevalence and Treatment of Depression, Anxiety, and Conduct Problems in US Children. The Journal of Pediatrics. 2019 Mar 1;206:256-267.e3.
5. Weiss B, Dang M, Trung L, Nguyen MC, Thuy NTH, Pollack A. A Nationally-Representative Epidemiological and Risk Factor Assessment of Child Mental Health in Vietnam. Int Perspect Psychol. 2014;3(3):139–53.
6. American Psychiatric Association. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM-5®). American Psychiatric Pub; 2013. 1519 p.
7. Rey JM, Martin A, editors. M Rey’s IACAPAP e-Textbook of Child and Adolescent Mental Health. Geneva: International Association for Child and Adolescent Psychiatry and Allied Professions; 2019.
8. American Academy of Pediatrics. AAP Developmental and Behavioral Pediatrics. 2nd ed. 2018.
9. Weisz JR, Weiss B, Suwanlert S, Chaiyasit W. Culture and youth psychopathology: testing the syndromal sensitivity model in Thai and American adolescents. J Consult Clin Psychol. 2006 Dec;74(6):1098–107.
10. Dreher A, Hahn E, Diefenbacher A, Nguyen MH, Böge K, Burian H, et al. Cultural differences in symptom representation for depression and somatization measured by the PHQ between Vietnamese and German psychiatric outpatients. Journal of Psychosomatic Research. 2017 Nov 1;102:71–7.
11. Kaminski JW, Claussen AH. Evidence Base Update for Psychosocial Treatments for Disruptive Behaviors in Children. J Clin Child Adolesc Psychol. 2017 Aug;46(4):477–99.
Chia sẻ nội dung này!
Bài viết theo chủ đề
