
BS Phạm Minh Triết
Bạn lo lắng vì con mình bị chậm nói và hoang mang không biết con mình liệu có bị tự kỷ không?. Bài viết này có thể giúp bạn có thêm thông tin về những rối loạn liên quan đến chậm nói.
A., một bé trai 2 tuổi được mẹ đưa đến khám vì chậm nói. Sau khi đánh giá những vấn đề có thể gây chậm nói ở trẻ, A. được chẩn đoán là Rối Loạn Ngôn Ngữ Diễn Đạt, nghĩ nhiều do môi trường thiếu kích thích và phụ huynh được hướng dẫn một số kỹ thuật để hỗ trợ con tại nhà. Sau vài lần tái khám, con phát triển ngôn ngữ phù hợp với tuổi nên không cần tái khám nữa.
B., một bé trai 2 tuổi, được đi khám vì chưa nói được. Sau đánh giá, B. được chẩn đoán là Rối loạn Ngôn Ngữ Tiếp Nhận và Diễn Đạt, theo dõi Chậm Phát Triển. Lâu hơn bé A., bé B. cần nhiều thời gian để can thiệp hơn tại khoa và can thiệp Âm ngữ trị liệu, cuối cùng B. cũng nói được.
C., bé gái 3 tuổi, lý do khám: chậm nói. Sau đánh giá 2 lần, con được chẩn đoán là theo dõi Chậm Phát Triển. Phụ huynh được hướng dẫn tái khám định kỳ để có chương trình dạy con tại nhà mỗi 3 – 6 tháng. Khi con vào lớp 1, học chậm, được đánh giá lại và có chẩn đoán xác định là Chậm phát triển trí tuệ.
D., bé trai 3 tuổi, khám vì chậm nói, hiện tại chỉ nói được câu 1 từ và chỉ nói khi nào con thích. Sau đánh giá, D. được chẩn đoán là Rối loạn Phổ tự kỷ. Phụ huynh được hướng dẫn tham gia học các lớp can thiệp cho con tại nhà. D. được nhận can thiệp chuyên biệt dành cho trẻ tự kỷ.
E., bé trai 3 tuổi, vì chậm nói, hiện tại chỉ nói được câu 1 từ và chỉ nói khi nào con thích. Sau đánh giá 2 lần, E. được chẩn đoán là Rối loạn ngôn ngữ diễn đạt, nghĩ do con được nuông chiều quá mức. Ông bà, ba mẹ được ưu tiên hướng dẫn những kỹ thuật can thiệp hành vi là những cách áp dụng kỷ luật với E. kết hợp những kỹ thuật giúp phát triển ngôn ngữ cơ bản. Sau 3 tháng kiên trì, E. giao tiếp phù hợp với tuổi. Sau 6 tháng, E. đi học như những trẻ bình thường khác và không tái khám nữa.
G., một bé gái 6 tuổi, được ba đưa đến khám vì lý do chậm nói. Con nói bình thường nhưng khi bắt đầu đi học lúc 3 tuổi, con không nói nữa. Lúc đầu con nói bình thường ở nhà, không nói ở trường. Về lâu dài, con không nói ở tất cả mọi nơi. Theo đánh giá của một phòng khám, con được đưa đi học can thiệp. Sau 6 tháng, con vẫn không tiến bộ và ngày càng chống đối mọi người. Con tiếp tục được đưa vào một trường can thiệp nội trú, chỉ về nhà được vài ngày sau mỗi tháng. Con tiến bộ về tự lập nhưng vẫn không nói và ngày càng thu mình, đêm ngủ là hét nhiều. Sau 2 lần đánh giá để loại trừ hết những nguyên nhân thực thể, con được chẩn đoán là theo dõi (nghi ngờ) Câm nín chọn lọc kèm Rối loạn stress sau sang chấn tâm lý. Điều khó khăn là gia đình không có thời gian để thực hiện những hướng dẫn nên sau vài lần tái khám thì không gặp nữa.
H., một bé gái 4 tuổi, cũng đến khám vì chậm nói. Con hiện sống với ông bà nội ở ngoài Bắc, ba mẹ thì đi làm trong Nam, con có 2 em đang ở với ba mẹ. Sau đánh giá, con được chẩn đoán là theo dõi trầm cảm. Phụ huynh được hướng dẫn đưa H. về sống cùng, chơi với con mỗi ngày trong một khoảng thời gian cố định cùng những kỹ thuật giúp cải thiện giao tiếp. Sau 4 lần tái khám, mỗi lần cách nhau 1 – 2 tháng, H. nói được nhiều, “lanh” và vui hơn. Dù chưa đạt được mức phát triển phù hợp tuổi, H. có nhiều tiến bộ rõ và vì vậy ba mẹ không đưa đến tái khám nữa.
Q., bé trai 6 tuổi, mẹ đưa đi khám vì chậm nói. Sau đánh giá, Q. được đề nghị đi đo thính lực vì nghĩ rằng trẻ bị điếc. Người mẹ ngần ngừ và không đồng ý. Hỏi ra mới biết là Q. từng được đề nghị gắn máy trợ thính lúc 3 tuổi. Nhưng lúc đó vì 2 nơi đo thính lực đưa ra 2 kết luận “hơi” khác nhau (dù hướng điều trị vẫn là gắn thiết bị trợ thính), 2 mức giá điều trị khác nhau, thái độ bác sĩ hống hách, thêm vào đó là khó khăn kinh tế (nhưng cố vẫn lo được). Người mẹ bỏ điều trị theo hướng trợ thính vì lúc đó bà bị mất lòng tin. Nhờ lần khám này, người mẹ tin tưởng mang con đi kiểm tra thính lực lại và chẩn đoán xác định là Điếc.
…
Trên đây là một vài trong rất nhiều trường hợp có thật được đưa đi khám vì chậm nói. Việc chẩn đoán chậm nói do nguyên nhân gì không chỉ dừng ở việc đánh giá chậm nói mà còn phải loại trừ được những nguyên nhân khác. Và phụ huynh cũng thấy rằng có rất nhiều nguyên nhân gây ra chậm nói, từ dạng nhẹ cho đến những dạng khó điều trị. Và vì vậy, việc chẩn đoán, can thiệp chậm nói đôi khi rất dễ dàng chỉ cần một lần khám nhưng cũng có khi rất khó khăn nên cần nhiều lần đánh giá và tốn nhiều công sức. Cũng chính vì điều này nên đôi khi phụ huynh có thể đọc được thông tin về một nơi nào đó có thể chữa lành được tự kỷ, lý do vì bé đó không phải là tự kỷ nhưng được chẩn đoán sai là tự kỷ. Vì cho đến thời điểm hiện tại, tại những nước đã phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Singapore thì tự kỷ vẫn là một rối loạn không thể chữa lành mà chỉ điều trị để cải thiện.
Do đó, nếu phụ huynh lo lắng vì con mình chậm nói, hãy đưa con đi đánh giá. Đừng dựa vào thông tin trên mạng để tự đưa ra chẩn đoán cho con mình. Mỗi đứa trẻ là một cá thể độc lập, có đặc tính riêng và môi trường phát triển riêng vì vậy đừng dựa trên chẩn đoán của con phụ huynh A. để “À, vậy thì con mình cũng bị như vậy”.
Có nhiều tiêu chuẩn để cho rằng trẻ chậm nói, để đơn giản, phụ huynh chỉ cần nhớ câu này “Một tuổi nói câu 1 từ. Hai tuổi nói câu 2 từ. Ba tuổi nói câu 3 từ”. (Nghĩa là: hầu hết những trẻ 1 tuổi sẽ nói được ít nhất 1 câu có một từ, ví dụ như: ba, bà, chó, …, hầu hết những trẻ đủ 2 tuổi sẽ nói được ít nhất 1 câu có 2 từ, ví dụ: ba về, mèo kêu, … ). Nếu 6 tháng sau, trẻ chưa được mốc đó thì cần đưa trẻ đi khám (Nghĩa là trẻ 1,5 tuổi chưa nói được từ nào, trẻ 30 tháng chưa nói được câu 2 từ, …).
BS. Phạm Minh Triết
Chia sẻ nội dung này!
Bài viết theo chủ đề
