
BS Phạm Minh Triết
Đúng ra là tôi tập trung viết các chủ đề liên quan đến trẻ em nhưng bản thân cảm thấy là hình như sau dịch Covid thì các vấn đề sức khỏe tâm thần được mọi người quan tâm nhiều hơn nên bài này tiếp tục viết về người lớn.
Tôi chắc rằng những bạn đọc bài này đã có ít nhất một lần trong đời than rằng “tôi bị xì trét (stress) quá!”. Nhưng tôi cũng chắc rằng 90% bạn đọc không biết là stress có dạng tốt và dạng xấu và là một điều tất nhiên trong cuộc sống mà ai cũng từng trải qua.
Stress được dịch sang tiếng Việt là sự căng thẳng, nhưng có lẽ được nhiều người dùng trong một thời gian dài nên từ stress trở thành một từ Việt. Nhưng tôi có cảm giác rằng tại Việt Nam, stress thường mang ý nghĩa tiêu cực hơn là tích cực.
Bản chất của stress là sự đáp ứng của cơ thể và trí não của một người với một vấn đề khó khăn hoặc có tính đe dọa.
Stress thường được phân loại thành 3 nhóm dựa theo diễn theo tiến thời gian:
- Căng thẳng cấp tính: Đây là một phản ứng căng thẳng ngắn hạn đối với một mối đe dọa hoặc thách thức ngay lập tức, chẳng hạn như tranh cãi, tai nạn xe hơi hoặc thời hạn. Nó thường kéo dài trong một thời gian ngắn và có thể có ích trong các tình huống đòi hỏi hành động nhanh chóng.
- Căng thẳng mãn tính: Loại căng thẳng này kéo dài và liên tục, và có thể phát sinh từ các tình huống cuộc sống đang diễn ra như vấn đề tài chính, các vấn đề về mối quan hệ hoặc căng thẳng liên quan đến công việc. Căng thẳng mãn tính có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần theo thời gian.
- Căng thẳng cấp tính từng đợt: Loại căng thẳng này được đặc trưng bởi các đợt căng thẳng cấp tính thường xuyên. Những người trải qua loại căng thẳng này có thể cảm thấy như họ liên tục bị áp lực, và nó có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần nếu không được giải quyết.
Stress cũng có thể được phân loại dựa trên nguyên nhân:
- Căng thẳng chấn thương: Loại căng thẳng này là kết quả của việc trải qua một sự kiện chấn thương tâm lýnhư thiên tai, tấn công thể chất hoặc tai nạn nghiêm trọng. Căng thẳng chấn thương có thể dẫn đến Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) và thường cần điều trị chuyên sâu.
- Kiệt sức: Loại căng thẳng này có liên quan đến căng thẳng liên quan đến công việc và được đặc trưng bởi sự kiệt sức về thể chất, cảm xúc và tinh thần do tiếp xúc kéo dài với các tác nhân gây căng thẳng.
Ngoài ra có một phân loại khác dựa trên cảm nhận: Eustress (tạm dịch: căng thẳng tích cực) và Distress (tạm dịch: căng thẳng tiêu cực).
Căng thẳng tích cực, còn được gọi là eustress, là một loại căng thẳng thường ngắn hạn và được coi là có lợi hoặc thúc đẩy. Mặt khác, căng thẳng tiêu cực, hoặc đau khổ, là một loại căng thẳng kéo dài, áp đảo và có tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng căng thẳng tích cực có thể mang đến nhiều lợi ích, bao gồm tăng động lực, cải thiện chức năng nhận thức (Putman et al., 2010) và tăng cường chức năng miễn dịch (Segerstrom et al., 2018). Ví dụ: căng thẳng trước kỳ thi giúp sinh viên cải thiện chức năng nhận thức và làm bài thi tốt hơn (Putman et al., 2010).
Ngược lại, căng thẳng tiêu cực liên quan đến một loạt các kết quả tiêu cực, bao gồm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần và thể chất, chẳng hạn như lo lắng, trầm cảm (Kendler et al., 2017), tiểu đường, và bệnh tim mạch (Grippo et al., 2019).
Điều quan trọng cần lưu ý là sự khác biệt giữa căng thẳng tích cực và căng thẳng tiêu cực không phải lúc nào cũng rõ ràng và có thể thay đổi dựa trên sự khác biệt cá nhân và các yếu tố tình huống. Những gì có thể được coi là căng thẳng tích cực cho một người có thể là căng thẳng tiêu cực cho người khác.
Tóm lại, stress là một phản ứng của cơ thể với một tình huống nguy cơ và ai cũng từng trải qua. Dựa theo thời gian, stress được phân loại cấp tính, mãn tính và cấp tính từng đợt. Dựa theo nguyên nhân, stress gồm nhóm chấn thương (tâm lý) và kiệt sức (nghề nghiệp). Stress cấp tính có thể mang ý nghĩa tích cực (hoặc tiêu cực), nhưng stress mãn tính luôn luôn mang ý nghĩa tiêu cực vì ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe (thể chất lẫn tinh thần), sinh hoạt, học tập và công việc.
Bs Phạm Minh Triết
Hình minh họa: Image by wayhomestudio on Freepik
Tài liệu tham khảo:
- McEwen, B. S. (2017). Neurobiological and systemic effects of chronic stress. Chronic stress, 1, 2470547017692328.
- American Psychological Association. (2020). Stress effects on the body. Retrieved from https://www.apa.org/topics/stress/body
- World Health Organization. (2019). Burn-out an “occupational phenomenon”: International Classification of Diseases. Retrieved from https://www.who.int/news/item/28-05-2019-burn-out-an-occupational-phenomenon-international-classification-of-diseases
- Grippo, A. J., Johnson, A. K., & Carter, C. S. (2019). Behavioral and cardiovascular effects of stress: Insights from basic research and clinical studies. Neurobiology of Stress, 10, 100167.
- Kendler, K. S., Chen, X., Dick, D., Maes, H., Gillespie, N., Neale, M. C., & Riley, B. (2017). Recent advances in the genetic epidemiology and molecular genetics of substance use disorders. Nature Neuroscience, 20(8), 1020-1029.
- Putman, P., Roelofs, K., & De Geus, E. (2010). Effects of single cortisol administrations on human affect reviewed: Coping with stress through adaptive regulation of automatic cognitive processing. Psychoneuroendocrinology, 35(8), 120-135.
- Segerstrom, S. C., Al-Attar, A., Lutz, C. T., & Ben-Eliyahu, S. (2018). A review of the relationship between acute and chronic stress and immunity in humans. Clinical Psychology Review, 64, 60-76.
Chia sẻ nội dung này!
Bài viết theo chủ đề
