
BS Phạm Minh Triết
Trong hai phần trước, tôi đã giới thiệu hai mô hình tổng quát thường được sử dụng để giải thích, phân tích và phát triển kế hoạch điều trị cho Trầm cảm.
(phần 1: https://drphamminhtriet.com/tram-cam-sao-nguoi-bi-nguoi-khong-phan-1/,
phần 2: https://drphamminhtriet.com/tram-cam-sao-nguoi-bi-nguoi-khong-phan-2/ ).
Cần biết rằng những rối loạn về sức khỏe tâm thần khác, ví dụ như rối loạn lo âu, rối loạn cư xử, …, cũng sử dụng mô hình này. Trong phần này, tôi liệt kê một số đặc tính (không phải là tất cả) liên quan đến trầm cảm mà chúng ta có thể dựa vào đó để tự thay đổi bản thân nhằm phòng ngừa và điều trị trầm cảm:
- Nếu nhà có một người ruột thịt trong một thế hệ bị trầm cảm, bạn có nguy cơ mắc trầm cảm cao. Cụ thể, ba, mẹ, anh chị em ruột, con ruột của bệnh nhân mắc trầm cảm có nguy cơ mắc trầm cảm cao hơn 2 đến 3 lần so với ba mẹ, anh chị em ruột, con ruột của người không mắc trầm cảm. Ở cặp sinh đôi cùng trứng, nếu một người bị trầm cảm, người còn lại có nguy cơ mắc trầm cảm là 45.6% (1). Tỷ lệ này ở cặp sinh đôi khác trứng là 20.2%. Yếu tố di truyền đóng góp 40% vào nguy cơ mắc trầm cảm ở nữ, con số này chỉ là 20% ở nam.

Trẻ 3 tháng tuổi có mẹ bị trầm cảm cũng có biểu hiện bị trầm cảm như mặt buồn, lười vận động, ít tương tác với người thân khác (7)
- Nếu người bạn đời của bạn bị trầm cảm, bạn có nguy cơ cao mắc trầm cảm. Điều này dễ hiểu vì nếu bạn ở cạnh một người thường xuyên tiêu cực và bi quan, bạn rồi cũng sẽ trở nên mệt mỏi. Hơn nữa, cảm xúc cũng có tính lây lan, nên cuối cùng bạn cũng sẽ có cảm xúc tiêu cực như người trầm cảm (2).
- Nếu bạn có giấc ngủ không liên tục hoặc không có giấc ngủ sâu đầy đủ, bạn có nguy cơ cao mắc trầm cảm (3). Mất ngủ, dẫn đến các rối loạn nhịp sinh học khác như ăn uống, nghỉ ngơi, cân nặng, làm tăng nguy cơ bị trầm cảm (Soreca et al., 2009). Cuối cùng, những bệnh nhân trầm cảm có các vấn đề về giấc ngủ thường đáp ứng kém với điều trị tâm lý, vì vậy, làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh (3).
- Bạn trải qua càng nhiều sự kiện gây căng thẳng hoặc chấn thương tâm lý, bạn càng có nguy cơ mắc trầm cảm (4). Mặc dù vậy, hoàn cảnh và ý nghĩa của sự kiện đó mới đóng vai trò chính trong nguy cơ mắc trầm cảm. Ví dụ: một người vừa mất việc nhưng người đó không bị căng thẳng gì vì người đó đã có kế hoạch tiếp theo cho mình. Ngược lại, một người khác bị mất việc trong lúc đang rất cần tiền thì tình trạng mất việc có thể gây căng thẳng nhiều.
- Nếu bạn cảm thấy mất mát hoặc cảm thấy bị sỉ nhục hoặc cảm thấy bị mọi người từ chối, bạn có nguy cơ cao mắc trầm cảm (5). Một nghiên cứu trên các cặp anh chị em sinh đôi cho thấy, nếu một người trong cặp sinh đôi này có người yêu bị chết, người này có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn người kia 10 lần. Nếu một người trong cặp sinh đôi bị người yêu bỏ đi theo bạn thân, người đó có nguy cơ mức trầm cảm cao gấp 20 lần người song sinh với mình (6). Ở tình huống thứ nhất, cảm giác liên quan đến người mắc trầm cảm là cảm giác mất mát. Ở tình huống thứ hai, cảm giác liên quan đến trầm cảm gồm cả sự mất mát (mất người yêu) và bị sỉ nhục (bị bạn thân cướp người mình yêu).
Tóm lại, có nhiều yếu tố trong cuộc sống có thể là yếu tố kích hoạt trầm cảm. Nếu bạn đang trải qua một hoặc vài yếu tố trên, bạn cần có kế hoạch phòng ngừa cho bản thân mình. Hỗ trợ và giúp người thân điều trị trầm cảm là một cách phòng ngừa. Ngoài ra, bản thân bạn cần duy trì thói quen thức ngủ phù hợp nhằm có được giấc ngủ sâu và đầy đủ, tập thể dục, thực hiện các hoạt động thư giãn như yoga và học cách giải tỏa stress, giữ và tăng cường các mối quan hệ xã hội tích cực, học kỹ năng giải quyết vấn đề là những cách phòng ngừa trầm cảm thích hợp cho các vấn đề trên. Cuối cùng, tìm đến sự trợ giúp của những người làm chuyên môn, như chuyên viên tâm lý, bác sĩ tâm thần, bác sĩ nhi khoa phát triển hành vi (cho trẻ dưới 18 tuổi) nếu những giải pháp trên không hiệu quả (còn tiếp).
Bs Phạm Minh Triết
Tài liệu tham khảo:
- McGuffin, P., Rijsdijk, F., Andrew, M., Sham, P., Katz, R., & Cardno, A. (2003). The heritability of bipolar affective disorder and the genetic relationship to unipolar depression. Archives of General Psychiatry, 60, 497–502.
- Joiner, T. E., Jr., & Timmons, K. A. (2009). Depression in its interpersonal context. In I. H. Gotlib & C. L. Hammen (Eds.), Handbook of depression (2nd ed., pp. 322–339). New York, NY: Guilford.
- Thase, M. E. (2009). Neurobiological aspects of depression. In I. H. Gotlib & C. L. Hammen (Eds.), Handbook of depression (2nd ed., pp. 187–217). New York, NY: Guilford.
- Kendler, K. S., & Gardner, C. O. (2010). Dependent stressful life events and prior depressive epi[1]sodes in the prediction of major depression: the problem of causal inference in psychiatric epidemiology. Archives of General Psychiatry, 67(11), 1120–1127.
- Monroe, S. M., & Reid, M. W. (2009). Life stress and major depression. Current Directions in Psychological Science, 18(2), 68–72.
- Kendler, K. S., Hettema, J. M., Butera, F., Gardner, C. O., & Prescott, C. A. (2003). Life event dimensions of loss, humiliation, entrapment, and danger in the prediction of onsets of major depression and generalized anxiety. Archives of General Psychiatry, 60, 789–796.
- Garber, J., Gallerani, C. M., & Frankel, S. A. (2009). Depression in children. In I. H. Gotlib & C. L. Hammen (Eds.), Handbook of depression (2nd ed., pp. 405–443). New York, NY: Guilford.
Chia sẻ nội dung này!
Bài viết theo chủ đề
