BS Phạm Minh Triết

Vài phụ huynh nói vui với tôi “Bác sĩ, con em nó mới năm tuổi mà nói chuyện như người lớn. Nó cứ nói “Con bị xì trét quá. Cứ làm như nó là người lớn. Người phải lo kiếm tiền nên mới bị stress, chứ nó là con nít, chỉ có ăn, ngủ và học thì lấy gì stress”. Vậy con nít có bị stress không?

Con nít cũng bị xì trét nhe. Mấy tuổi cũng có thể bị hết. Sao lạ vậy?

A. Phân Loại Stress ở Trẻ Em

Stress còn được gọi là sự căng thẳng (bài liên quan: https://drphamminhtriet.com/xi-tret-stress-la-gi/). Ở trẻ em, stress thường được phân loại thành 3 nhóm (1):

  1. Căng thẳng tích cực: có cường độ nhẹ đến trung bình và nó gợi ra một phản ứng sinh lý ngắn gọn và có cường độ nhẹ đến trung bình. Ví dụ như chích ngừa hoặc ngày đầu tiên đi học. Căng thẳng tích cực với sự hỗ trợ thích hợp của những người chăm sóc có thể được coi là thúc đẩy tăng trưởng và quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh. Trẻ có thể vượt qua dễ dàng khi một người lớn chăm sóc trẻ (ví dụ như ba, mẹ) có mặt để giúp giảm bớt sự căng thẳng của một đứa trẻ.
  2. Căng thẳng có thể chịu đựng được: liên quan đến việc tiếp xúc với một trải nghiệm có mức độ nghịch cảnh hoặc mối đe dọa lớn hơn, chẳng hạn như cái chết của một thành viên trong gia đình, một thảm họa thiên nhiên hoặc một cuộc tranh cãi của ba mẹ, và do đó nó gây ra phản ứng căng thẳng sinh lý mạnh mẽ hơn nhiều. Nếu được làm nhẹ đi một cách hiệu quả bởi những người lớn hỗ trợ và nuôi dưỡng, nguy cơ gây ra sự kích hoạt kéo dài của hệ thống ứng phó với căng thẳng, tác động tiêu cực đến sức khỏe và học tập của sự căng thẳng này sẽ giảm đáng kể. Do đó, hình thức phản ứng căng thẳng này có thể chấp nhận được tùy thuộc vào mức độ mà các mối quan hệ bảo vệ người lớn có thể tạo điều kiện cho trẻ đối phó thích nghi và cảm giác kiểm soát.
  3. Căng thẳng độc hại: là kết quả của sự kích hoạt mạnh mẽ, thường xuyên hoặc kéo dài của hệ thống phản ứng căng thẳng của cơ thể mà không có sự bảo vệ của các mối quan hệ trưởng thành hỗ trợ và lâu dài. Ví dụ: trẻ bị lạm dụng hoặc bị bỏ mặc, ba hoặc mẹ có bệnh tâm thần, ba mẹ tranh cãi/đánh nhau thường xuyên, khó khăn tài chính kéo dài. Các yếu tố chính phân biệt loại tác nhân gây căng thẳng và phản ứng của trẻ đối với chúng là (i) cường độ và sự dai dẳng của căng thẳng và (ii) sự thiếu sẵn có của một người lớn chu đáo và nhạy bén mà sự trấn an của người đó có thể đóng vai trò là yếu tố bảo vệ, tạo điều kiện cho phản ứng căng thẳng trở về trạng thái cân bằng.

Xin minh họa bằng một câu chuyện có thật:

Khoảng năm 2018, một người bà đi cùng một người mẹ và dắt theo một bé trai khoảng 3 – 4 tuổi ở một tỉnh miền trung vào TP. Hồ Chí Minh để nhờ tôi khám cho bé. Con đã được nơi khác chẩn đoán tự kỷ và quả thật con có nhiều biểu hiện này mức phát triển bằng một trẻ 1 tuổi. Ba mẹ con khi sống cùng thì thường xuyên có xích mích và con ít được quan tâm chăm sóc. Về sau, ba mẹ ly thân, lúc ở với mẹ, lúc ở với ba, dù ít chứng kiến chuyện ba mẹ đánh chửi nhau nhưng con thường xuyên bị bỏ mặc, suốt ngày làm bạn với tivi và ipad. Người bà xót cháu nên cuối cùng giành quyền nuôi dưỡng và đưa con đến khám. Đây là một trường hợp trẻ bị căng thẳng độc hại.

B. Ảnh Hưởng của Căng Thẳng Độc Hại

Các phản ứng sinh lý đối với căng thẳng được nghiên cứu và xác định rõ ràng (2, 3). Quá trình phản ứng căng thẳng làm tăng một số chất hóa học trong cơ thể  (Ví dụ như hormone giải phóng corticotrophin (CRH), cortisol, norepinephrine và adrenaline, cytokine gây viêm). Sự  tăng thoáng qua của các chất này mang tính bảo vệ và cần thiết cho sự sống còn. Ngược lại, sự  tăng quá mức hoặc kéo dài của các chất này được xem là độc hại, dẫn đến những thay đổi mãn tính trong kiến trúc não và chức năng cơ thể, bao gồm những thay đổi trong điều hòa sinh lý và cảm xúc và trong chức năng điều hành (2, 3).

Trẻ sẽ vượt qua stress nếu được sự an ủi, đùm bọc của người chăm sóc

Căng thẳng độc hại có thể dẫn đến rối loạn giấc ngủ, gây lo lắng, ức chế trung tâm no (dẫn đến ăn quá nhiều hoặc chậm phát triển), đái dầm và ỉa đùn. Căng thẳng độc hại có thể ảnh hưởng đến trí nhớ làm việc và dẫn đến việc chậm đạt được các mốc phát triển hoặc học tập. Nó có thể làm giảm kiểm soát ức chế, gây giận dữ hoặc đánh nhau. Tác động của nó đối với tính linh hoạt nhận thức có thể dẫn đến việc trẻ gặp khó khăn trong khả năng chịu đựng sự thất vọng, tổ chức, sự tập trung và mức độ hoạt động (4). Nghiên cứu Trải Nghiệm Bất Lợi Thời Thơ Ấu (5) trên hơn 17.000 người trưởng thành trong hơn 20 năm tại Mỹ cho thấy số lượng các yếu tố gây căng thẳng thời thơ ấu càng cao, trẻ càng có nhiều kết quả kém về sức khỏe và thành tích học tập ở tuổi trưởng thành.

Trở lại trường hợp trên:

… hiện tại con đã 8 tuổi, học lớp 3, sống trong tình yêu thương, bảo bọc và dạy dỗ của bà. Con đi học ngoan nhưng có nhiều biểu hiện tăng động và kém chú ý. Con cũng cố gắng kiểm soát những khó khăn này nhưng điều đó làm con nhức đầu và mệt mỏi. Con cũng dễ bị lo lắng khi có những thay đổi trong cuộc sống. Con vẫn còn một chặng đường dài phía trước.

 Tóm lại, căng thắng giống như một vết cắt vào da. Nếu vết cắt cạn (không sâu), da sẽ mau lành và không để lại sẹo. Nhưng nếu vết cắt sâu và hoặc lập đi lập lại thường xuyên, vùng da bị cắt sẽ bị sẹo vĩnh viễn.

  1. Phạm Minh Triết.

Hình minh họa: @bearfotos và @gpointstudio on Freepik.

Tài liệu tham khảo:

  1. Shonkoff JP, Garner AS, American Academy of Pediatrics Committee on Psychosocial Aspects of Child and Family Health, Committee on Early Childhood, Adoption, and Dependent Care, and Section on Developmental and Behavioral Pediatrics. The lifelong effects of early childhood adversity and toxic stress. Pediatrics. 2012;129(1):e232–e246
  2. Compas BE. Psychobiological processes of stress and coping: implications for resilience in children and adolescents—comments on the papers of Romeo & McEwen and Fisher et al. Ann N Y Acad Sci. 2006;1094:226–234
  3. Gunnar M, Quevedo K. The neurobiology of stress and development. Annu Rev Psychol. 2007;58:145–173
  4. American Academy of Pediatrics. Helping Foster and Adoptive Families Cope With Trauma: A Guide for Pediatricians. American Academy of Pediatrics Web site. www.aap.org/traumaguide. Published 2016. Accessed January 16, 2018
  5. Felitti VJ, Anda RF, Nordenberg D, et al. Relationship of childhood abuse and household dysfunction to many of the leading causes of death in adults. The Adverse Childhood Experiences (ACE) Study. Am J Prev Med. 1998;14(4):245–258

Chia sẻ nội dung này!

Để lại bình luận của bạn